Ngày 16 tháng 09 năm 2019

CÂU CHUYỆN MÁI NHÀ

Trong quá trình thi công xây dựng, mái nhà thường nằm ở công đoạn cuối. Thi công xong phần mái là gia chủ có thể yên tâm tới 90%. Điều đó cũng như đóng một dấu ấn quan trọng cho một quá trình. Không chỉ là một bộ phận của kiến trúc để che nắng che mưa, mái nhà còn có ý nghĩa hơn thế để chỉ về một nơi cư trú hay một khái niệm cao hơn về một sự sum họp, hạnh phúc quây quần

Bây giờ có tới 1.001 loại mái khác nhau. Sự lựa chọn hình thức mái, vật liệu mái cho kiến trúc sư và cả chủ nhà là… thoải mái. Tuy nhiên, hiện nay vai trò của kiến trúc sư được đánh giá đúng mức hơn nên các dạng mái “quái chiêu”, mái “vô duyên”… cũng dần ít đi.

Mái nhà xuất hiện từ khi nào?

Mái nhà có tự lâu lắm rồi, khi mà chưa có các khái niệm về khoa học xây dựng hay nghệ thuật kiến trúc. Từ xa xưa con người đã biết tìm những nơi trú ẩn và sinh hoạt trong các hang đá – đó chính là những mái nhà đầu tiên.
Và rồi sau đó, không thể phụ thuộc mãi vào thiên nhiên, những túp lều, những ngôi nhà… ra đời bằng bàn tay và khối óc của con người. Mái nhà và kiến trúc song hành cùng sự tiến bộ của cả nhân loại.
Suốt chiều dài lịch sử, kiến trúc đã thay đổi rất nhiều cùng khoa học công nghệ, xã hội; những mái nhà cũng thay đổi theo. Nhưng khát vọng, mơ ước về một mái nhà hoàn mỹ trên nhiều phương diện vẫn đeo đuổi con người.

Từ những mái nhà dân gian…


Trong kiến trúc dân gian Việt Nam, mái nhà khởi nguồn bằng những vật liệu có nguồn gốc thiên nhiên. Mỗi địa phương có một loại mái – một loại vật liệu đặc thù cho mái. Ở miền Bắc có mái tranh, mái rơm – rạ, mái cọ… miền Nam sử dụng nhiều lá dừa để lợp mái. Kết cấu khung mái là tre, gỗ với những liên kết mộng, chốt, hay thậm chí buộc bằng lạt tre (ở miền Bắc), dây dừa (ở miền Nam)… Những mái nhà nguyên sơ này vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng quê Việt Nam.
Mái nhà tiếp theo chính là mái ngói đất nung. Mái ngói đã trở thành một hình ảnh điển hình trong kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Mỗi nơi và mỗi thời kỳ có từng loại mái ngói và ngói khác nhau, tạo nên sự đa dạng, phong phú. Cho tới bây giờ, mái ngói vẫn không hề cũ.

 Mái ngói Nhà Thái Học - Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)

… cho tới 1.001 loại mái


 Khi người Pháp vào Việt Nam, họ đã mang theo nhiều lối kiến trúc mới từ phương Tây. Những kiến trúc mới này, cùng vật liệu và kỹ thuật xây dựng hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt đô thị Việt Nam. Người Pháp cũng đã để lại một số lượng lớn các biệt thự ở các đô thị Việt Nam, mà bây giờ chúng ta vẫn thường gọi là biệt thự Pháp. Đa phần các biệt thự này sử dụng mái dốc lợp ngói với hệ kết cấu vì kèo gỗ kết hợp với tường thu hồi. Cũng là mái ngói nhưng hình thức mái biệt thự khá đa dạng trong mỗi phong cách kiến trúc khác nhau.

Đã có một thời kỳ, ở cả đô thị lẫn nông thôn, khi xi măng, sắt thép không còn hiếm nữa thì việc “bằng hoá” (đổ mái bằng) cái mái là một mục tiêu phấn đấu của mọi nhà.

Và cũng một thời kỳ, khi kinh tế khá giả, khi có điều kiện tiếp cận với thông tin thì người dân xây nhà tự đưa những kiểu mái mà họ thích vào ngôi nhà của họ. Kết quả có nhiều mái chóp, mái “củ hành”… và nhiều loại mái có kiến trúc xa lạ với khí hậu và văn hoá Việt Nam. Trong khi ở Hà Nội mái chóp dán ngói nhiều tới mức người ta hát: “Em ơi, Hà Nội chóp”; thì mái Nhà hát lớn được copy khắp nơi trên tỉnh thành phía Bắc, từ công sở tới nhà dân.

Bây giờ có tới 1.001 loại mái khác nhau. Sự lựa chọn hình thức mái, vật liệu mái cho kiến trúc sư và cả chủ nhà là… thoải mái. Tuy nhiên, hiện nay vai trò của kiến trúc sư được đánh giá đúng mức hơn nên các dạng mái “quái chiêu”, mái “vô duyên”… cũng dần ít đi.

Những xu hướng thiết kế trong tương lai



 
Bảo tàng Hà Nội

Những năm gần đây, sau khi đã chán mái bằng bởi sự cứng nhắc, người ta đã trở lại nhiều với mái dốc với mục đích tìm kiếm một sự duyên dáng, hay một tinh thần dân tộc. Mái dốc được sử dụng khá nhiều, thậm chí với cả nhà cao tầng. Tuy nhiên, sự nguyên bản hầu như không còn nữa. Hệ kết cấu kèo gỗ ít được sử dụng, thay thế vào đó là mái bê tông dán ngói, hay hệ khung thép lợp ngói, phủ tấm lợp. Những công trình quay trở về với đúng “thức” mái dốc truyền thống, kể cả với những vật liệu tự nhiên như tranh tre, lá dừa… phần nhiều là các công trình nhỏ không vĩnh cửu như nhà hàng, quán cà phê…

Bên cạnh đó, với những vật liệu mới, kết cấu mới, công nghệ xây dựng hiện đại, nhiều dạng mái mới đã và đang được ứng dụng nhiều trong các công trình xây dựng từ quy mô nhỏ đến lớn. Mái nhựa lấy sáng được sử dụng khá nhiều để khai thác ánh sáng và hiệu quả không gian nội thất. Mái giàn thép không gian cũng đang được ứng dụng khá nhiều trong các công trình công cộng, công nghiệp. Mái kim loại cách âm cách nhiệt cũng được ứng dụng vào các công tình tiêu biểu của nước nhà.

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là kết cấu xây dựng; một số công trình ở Việt Nam cũng đã có những hình thức mái độc đáo theo chủ nghĩa biểu hiện. Công trình bảo tàng Hà Nội có mái biểu tượng kim tự tháp ngược, Công trình Trung tâm hội nghị Quốc gia (KTS Meinhard von Gerkan và KTS Nikolaus Goetze - Đức) với mái cách điệu hình ảnh sóng biển, … 

(Nguồn :http://vietbao.vn/Doi-song-Gia-dinh/Cau-chuyen-mai-nha/75242417/115/)